|
Nguyên Tấn
Luật Phá sản lại có nguy cơ tiếp tục... phá sản! Theo đánh
giá tại cuộc hội thảo do TAND TPHCM vừa tổ chức mới đây,
mặc dù đă hai năm thực thi Luật Phá sản, số đơn yêu cầu
tuyên bố phá sản có chiều hướng tăng hơn so với trước
nhưng sự gia tăng này xem ra vẫn quá ít so với t́nh
trạng “chết không được chôn” trên thực tế. Các ṭa án
của ba trung tâm kinh tế lớn là TPHCM, Hà Nội và Đà Nẵng,
kể từ khi Luật Phá sản có hiệu lực từ 15-10-2004 đến
nay, chỉ tiếp nhận vỏn vẹn 45 đơn yêu cầu tuyên bố phá
sản. Riêng TPHCM nhiều nhất có 22 đơn trong đó có tới 15
là của các doanh nghiệp nhà nước. Tuy nhiên, số doanh
nghiệp nhà nước này thực chất là do chủ trương sắp xếp
lại khu vực quốc doanh gần đây của Chính phủ. Như vậy,
trừ đi số doanh nghiệp buộc phải “chôn cất” theo chỉ đạo,
số c̣n lại phá sản theo nhu cầu cũng chỉ có bảy doanh
nghiệp. Một con số quá nhỏ nhoi và phi lư!
V́ sao Luật Phá sản năm 2004 đă được điều chỉnh mà t́nh
h́nh thực thi không cải thiện bao nhiêu so với Luật Phá
sản doanh nghiệp năm 1994? Có nhiều nguyên nhân nhưng
nguyên nhân trước tiên là do tính khả thi của luật không
cao. Để một văn bản luật đi vào cuộc sống, văn bản luật
đó trước hết phải đảm bảo hai điều kiện: vừa hấp dẫn (việc
đảm bảo quyền lợi cho người bị điều chỉnh), vừa phải
nghiêm minh (việc thực thi nghĩa vụ). Cả hai điều kiện
này Luật Phá sản 2004 đều chưa đáp ứng được. Về quyền
lợi, sẽ thấy ngay rằng nếu chọn con đường phá sản th́
trong hầu hết các trường hợp cả chủ nợ lẫn doanh nghiệp
lâm vào t́nh trạng phá sản đều sẽ thiệt hơn nhiều so với
biện pháp né tránh phá sản. Cái lợi lớn nhất ở đây là
sau khi được tuyên bố phá sản doanh nghiệp sẽ không c̣n
phải lo lắng trả nợ nữa (trừ doanh nghiệp tư nhân), thay
v́ bị chủ nợ đeo đuổi hoài. Đối với doanh nghiệp có khả
năng phục hồi th́ được tạo cơ hội để chạy chữa và hoạt
động trở lại. Tuy nhiên, khả năng trên rất họa hoằn v́
thực tế cho thấy tuyệt đại đa số các doanh nghiệp khi đă
đưa đơn yêu cầu phá sản th́ đều đă trong t́nh trạng gần
như không c̣n thuốc chữa. Lịch sử tố tụng phá sản của
TAND TPHCM chỉ ghi nhận một trường hợp phục hồi duy nhất,
đó là Công ty Đông lạnh Hùng Vương. Nhưng việc phục hồi
này có được lại là nhờ sự can thiệp, cứu chữa của Nhà
nước.
Trong khi đó, đổi lại những lợi ích trên, doanh nghiệp sẽ
gặp không ít phiền phức. Chỉ riêng việc báo cáo cho ṭa
đă phải làm tới sáu loại khác nhau. Ngoài ra, c̣n phải
tốn tiền (tạm ứng chi phí phá sản), mất thời gian. Theo
Phó chánh Ṭa Kinh tế TPHCM Nguyễn Công Phú, nếu làm
trôi chảy đúng như quy định th́ chỉ riêng giai đoạn từ
lúc mở thủ tục phá sản đến khi mở thủ tục thanh lư tài
sản đă mất đứt sáu tháng trời. “Nhưng tôi chưa thấy có
vụ nào trơn tru như vậy cả” - ông Phú khẳng định. Nguyên
nhân là v́ có hàng loạt rắc rối nảy sinh trong quá tŕnh
giải quyết. Đặc biệt, điều đau khổ hơn cả là những người
gây ra hậu quả phá sản bị pháp luật xem như những “tội
đồ” nguy hiểm. Theo quy định, chủ doanh nghiệp phá sản
và những người quản lư doanh nghiệp đó sẽ bị ṭa ra
quyết định không được quyền thành lập doanh nghiệp và
cấm đảm nhiệm các chức vụ quản lư doanh nghiệp từ một
đến ba năm kể từ ngày doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản.
Một h́nh phạt thật nặng nề! Và đương nhiên, tất cả những
phiền phức, bất lợi như trên sẽ dẫn đến hậu quả tất yếu
là doanh nghiệp né tránh việc yêu cầu phá sản, thay v́
theo quy định họ phải có nghĩa vụ làm việc đó. Mà không
làm th́ họ vừa đỡ tốn công, mất thời gian, vừa vẫn ung
dung được tiếp tục công việc kinh doanh yêu thích của
ḿnh (và nếu thành công họ sẽ c̣n trả được nợ nữa). Luật
Phá sản quy định khi nhận thấy doanh nghiệp của ḿnh lâm
vào t́nh trạng phá sản th́ chủ doanh nghiệp đó phải có
nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản nhưng nếu
không nộp đơn th́ cũng... chẳng sao cả. Cho đến nay, sau
hai năm thực thi Luật Phá sản, một nghị định quy định về
xử phạt hành chính trong lĩnh vực này vẫn c̣n đang được
Bộ Tư pháp soạn thảo. Điều đáng nói là theo quy định chỉ
có doanh nghiệp ngoài quốc doanh mới bị ràng buộc về
nghĩa vụ yêu cầu mở thủ tục phá sản, c̣n đối với doanh
nghiệp nhà nước th́ nghĩa vụ ấy lại được ưu tiên xem là
quyền lợi! Khoản 1, điều 16, Luật Phá sản ghi rơ: “Khi
nhận thấy doanh nghiệp nhà nước lâm vào t́nh trạng phá
sản mà doanh nghiệp không thực hiện nghĩa vụ nộp đơn yêu
cầu mở thủ tục phá sản th́ đại diện chủ sở hữu của doanh
nghiệp có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối
với doanh nghiệp đó”. Quy định như vậy rơ ràng càng hợp
pháp hóa cho doanh nghiệp trốn tránh việc phá sản mà
thôi!
Một hiện tượng không kém phần nghịch lư nữa là ngay cả đến
các chủ nợ cũng chẳng mặn mà ǵ với việc đưa đơn yêu cầu
tuyên bố phá sản đối với con nợ của ḿnh. Điều này cũng
có căn nguyên xuất phát từ việc cân nhắc về sự lợi, hại
giữa một bên là đâm đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản và
một bên là chọn giải pháp khác. Theo quy định, khi mở
thủ tục phá sản bắt buộc phải thông báo công khai cho
tất cả các chủ nợ biết. Từ đây, các chủ nợ nảy sinh tâm
lư: vậy, dại ǵ ta phải la to lên để bị xí phần, chi
bằng cứ âm thầm đi kiện bằng một vụ đ̣i nợ khác may ra
c̣n gỡ gạc!? Chính tâm lư khá phổ biến này, theo Phó
chánh Ṭa Kinh tế TPHCM Nguyễn Công Phú, đă ngăn cản các
chủ nợ t́m đến ṭa bằng con đường nộp đơn yêu cầu phá
sản.
Rơ ràng, Luật Phá sản đă tỏ ra kém hấp dẫn. Chưa nói đến
thái độ của pháp luật coi rủi ro, thất bại trong kinh
doanh như một hành vi phạm pháp. Nên chăng pháp luật cần
có sự bao dung hơn đối với những người bị vấp ngă thay
v́ làm cho họ sợ hăi và tước đoạt mất quyền kinh doanh
của họ? Như chúng ta đă biết, các doanh nhân Mỹ sở dĩ tự
hào về luật phá sản của ḿnh là v́ họ được bảo vệ ngay
cả khi đă rơi vào t́nh trạng phá sản, được khuyến khích
chấp nhận rủi ro để làm giàu. Nathalie Martin, Giáo sư
Viện Phá sản Hoa Kỳ, phát biểu: “Thất bại trong kinh
doanh ở Hoa Kỳ không bị coi là xấu. Trên thực tế, Luật
Phá sản của Hoa Kỳ được xây dựng để sao cho những người
thất bại trong kinh doanh được khuyến khích tiếp tục
theo đuổi công việc kinh doanh của ḿnh. Khả năng có thể
bắt đầu lại công việc kinh doanh chính là động lực khiến
cho một số người Mỹ sẵn sàng chấp nhận rủi ro trong kinh
doanh và đây là điều có lợi cho toàn bộ nền kinh tế”. |